Tại sao bệnh nhân đái tháo đường: “ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều và lại gầy nhiều”

Theo định nghĩa khoa học thì đái tháo đường là một hội chứng bệnh lý đặc trưng bởi nồng độ glucose trong máu tăng thường xuyên và mãn tính. Nguyên nhân do tụy sản xuất thiếu insulin (thiếu insulin tuyệt đối). Hoặc do giảm tác dụng của insulin (thiếu insulin tương đối). Do các nguyên nhân khác nhau cùng với các rối loạn chuyển hóa glucid, protid, lipid. Bệnh đái tháo đường gắn liền với các bệnh lý về thận, đáy mắt, thần kinh và các bệnh về tim mạch.

Như ta đã biết đái tháo đường có 2 loại: đái tháo đường typ 1 và đái tháo đường typ 2. Hậu quả của đái tháo đường là do thiếu hụt insulin tương đối hoặc tuyệt đối làm glucose máu tăng cao. Giảm vận chuyển glucose vào tế bào gây giảm quá trình chuyển hóa glucose- 6phosphat trong tế bào.

bệnh đái tháo đường

Hậu quả của đái tháo đường typ 1

Ăn nhiều

Tế bào thiếu năng lượng do thiếu insulin, glucose ít vào tế bào nên glucose- 6phosphat giảm. Thiếu glucose- 6phosphat, tế bào không thể tạo ra năng lượng dẫn đến cảm giác mệt mỏi, đói thường xuyên => “ăn nhiều.”

Đái nhiều

Nồng độ glucose trong máu tăng cao làm tăng áp lực thẩm thấu máu, bệnh nhân khát => “uống nhiều”. Đồng thời cản trở sự hấp thụ nước ở ống thận nên đái nhiều. Và lượng glucose vượt quá ngưỡng thận nên nước tiểu có đường lại gây đa liệu thẩm thấu =>” đái nhiều”.

Gầy nhiều

Do thiếu glucose- 6phosphat, protid không tổng hợp được còn bị thoái hóa nên cân bằng nito âm. Thiếu glucose- 6phosphat chu trình pentose ngừng trệ nên không tổng hợp đước lipid (chất béo). Mặt khác, vì tế bào không tạo ra năng lượng cho cơ thể do thiếu glucose- 6phosphat. Nên tế bào sẽ kích thích lipid, lipid thoái hóa thành acid béo và acetyl CoA nên =>” gầy nhiều”. Đồng thời sản phẩm của thoái hóa protid lại tạo ra đường cho máu lại càng làm tăng glucose trong máu.

người bị tiểu đường uống nhiều nước

 

Gây nên các bệnh khác

Ngoài ra, ở bệnh nhân đái tháo đường typ 1 khi thiếu hụt insulin tuyệt đối; làm cho glucose không vào trong tế bào được. Dẫn đến giảm glucose- 6phosphat, giảm năng lượng của cơ thể. Do đó cơ thể giảm dự trữ glycogen ở gan và cơ. Đồng thời phân hủy lipid và protid để tạo nguyên liệu cho quá trình tạo mới glucose cho mục đích tạo năng lượng. Thiếu glucose- 6phosphat sẽ gây ứ đọng hình thành thể ceton và cholesterol. Các thể ceton tạo thành đều là từ các acid mạnh (aceton) nên làm pH máu giảm => gây máu nhiễm acid chuyển hóa.

Do ceton máu tăng cao gây toan máu và thiếu hụt insulin tuyệt đối nên bệnh nhân sẽ rơi vào tình trạng nhiễm toan ceton. Dẫn đến hôn mê, hạ huyết áp và có thể tử vong. Sự ứ đọng trong gan các mẩu acetyl CoA lằm tăng tổng hợp cholesterol. Đây là nguy cơ to nhất gây xơ vữa đọng mạch, gây phù gai mắt, nhồi máu cơ tim.

Hậu quả đái tháo đường typ 2

Về cơ bản giống thiếu hụt insulin tuyệt đối nhưng diễn biến chậm hơn. Ở bệnh nhân thiếu hụt insulin tương đối, ở giai đoạn sớm có sự tăng đề kháng insulin. Nhưng tế bào β đảo tụy tăng tiết nên dung nạp glucose không đổi; glucose vẫn vào được trong tế bào nên chưa có các rối loạn chuyển hóa trong tế bào hay tạo thành ứ đọng thể ceton. Do đó ở giai đoạn này chưa có các biểu hiện lâm sàng.

Tuy nhiên, khi thiếu hụt insulin tương đối dẫn tới rối loạn bài tiết insulin và kháng insulin. Các tế bào mỡ đề kháng insulin có kích thước khá lớn nên làm acid béo tự do tăng trong huyết tương; dẫn tới sản xuất glucose ở gan. Đồng thời giảm sử dụng glucose ở mô gan, mỡ và cơ. Do đó tăn glucose trong máu mạn, tăng nồng độ acid béo tự do.

Nồng độ glucose trong máu tăng mạn tính, bệnh nhân cũng có các biểu hiện: ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, gầy nhiều. Khi nồng độ glucose trong máu giữ nước ở mức cao (glucose > 11,1 mmol/L). Tăng glucose máu lúc đầu làm tăng áp lực thẩm thấu ngoại bào kéo nước ra ngoài gây mất nước nội bào. Mặt khác do tăng nồng độ glucose máu nên gây đa niệu thẩm thấu. Và tình trạng tăng thông khí gây cả mất nước ngoại bào làm giảm cung cấp máu não => bệnh nhân tụt huyết áp, hôn mê.

bệnh nhân đái tháo đường bị hôn mê

Một vài phương hướng điều trị

Trên đây là những hậu quả nội tiết của bệnh đái tháo đường. Nội tiết là ở cấp độ tế bào, là những thay đổi chuyển hóa bên trong cơ thể. Nơi mà con người không thể nhìn thấy trực tiếp nhưng có thể mô tả lại. Và lúc nào hậu quả nội tiết cũng xảy ra trước khi có các biểu hiện lâm sàng. Đái tháo đường có 2 typ thì cách điều trị cũng phụ thuộc vào bệnh nhân mắc loại nào.

Đối với bệnh nhân bị đáo tháo đường tuýp 1

Do tế bào β đảo tụy phị phá hủy không thể tiết insulin. Thì điều trị bằng việc cung cấp insulin vào máu như bơm truyền insulin; cấy ghép các tế bào đảo tụy; tái tạo lại tế bào đảo tụy,…. Các bệnh nhân đái tháo đường typ 1 cấy ghép lại các tế bào đảo tụy bị phá hủy từ người hiến tặng. Trong thực tế đã có một số thành công với thủ thật này. Nhưng về lâu dài cho cơ chế miễn dịch của cơ thể luôn có xu hướng đào thải các yếu tố lạ thì biện pháp này không duy trì được lâu dài.

Với bệnh nhân đái tháo đường typ 2

Ta chỉ có thể điều trị bệnh bằng cách điều trị các triệu chứng. Nói cách khác là bệnh nhân điều trị các triệu chứng và vẫn sống chung với bệnh. Điều trị các triệu chứng như hạ huyết áp, tê bì chân tay, mệt mỏi, vết thương lâu lành,… .Bên cạnh đó người bệnh cần có chế độ lao động, sinh hoạt lành mạnh, hợp lý để giúp cải thiện tình trạng bệnh. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại thuốc, thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị. Thanh đường Gamosa của Học viện Quân y là một sản phẩm rất được ưa chuộng hiện nay, và mang lại hiệu quả cao, an toàn với người sử dụng.

thanh đường gamosa

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Call Now Button
1
Bạn cần hỗ trợ ?